flag header

Tin tứcTin tức

Quá trình hình thành và quản lý khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ

Ngày đăng 23/12/2018 Lượt xem: 3746

Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, còn gọi là Rừng Sác, là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ. UNESCO đã công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 21-1-2000 với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của vùng ngập mặn. Nơi đây được công nhận là một khu du lịch trọng điểm quốc gia Việt Nam. Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ là 75.740 ha, trong đó: vùng lõi 4.721 ha, vùng đệm 41.139 ha, và vùng chuyển tiếp 29.880 ha.

 

Quá trình hồi sinh

Trước năm 1954, Cần Giờ là khu rừng ngập mặn với quần thể động thực vật phong phú. Diện tích rừng ngập mặn che phủ cả một vùng rộng lớn, tán rừng nguyên sinh ken dày với các loài cây đặc hữu, tạo môi trường thuận lợi cho quần thể động vật cư ngụ, sinh trưởng. Nhưng trong chiến tranh chống Mỹ, nhất là từ năm 1965 trở đi, bom đạn và chất độc hóa học đã làm nơi đây trở thành "vùng đất chết". Cần Giờ lúc đó là căn cứ quân sự tiền tiêu của địch, canh phòng cho con đường thủy huyết mạch từ biển Đông vào cảng Sài Gòn. Theo thống kê, nơi đây đã phải hứng chịu hơn 4 triệu lít chất hóa học, 2 triệu tấn bom đạn, làm khoảng 40.000 ha rừng ngập mặn bị hủy diệt[1].

Năm 1978, khi Cần Giờ (bấy giờ còn mang tên là Duyên Hải) trở về với TP.HCM, Thành ủy và UBND thành phố đã thành lập Lâm trường Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ – thuộc Ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi phục lại hệ sinh thái ngập mặn Cần Giờ. Thời điểm đó, công trình khoa học “Khôi phục và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ” đã được thành phố phê duyệt và tiến hành thực hiện từ tháng 5-1978.

Một trong những kết quả nghiên cứu nổi bật của cong trình này là chọn được loài cây trồng thích hợp, với phương châm “đất nào cây đó”. Các nhà khoa học sau khi đi điều tra, khảo sát thực địa, nghiên cứu các khu rừng ngập mặn ở Cà Mau, Bến Tre… đồng thời nghiên cứu tài liệu liên quan tình hình sinh trưởng, phát triển của rừng Sác - Cần Giờ trước đây, đã chọn cây đước là cây được trồng chủ yếu. Cây đước có thể sinh trưởng và phát triển tốt trên các vùng đất phù sa, sình lầy, bùn chặt, chịu ảnh hưởng của thủy triều với độ mặn từ 10 - 25‰. Nguồn giống trái đước ở Cà Mau có thể cung cấp đủ số lượng để trồng lại rừng đước ở Cần Giờ. Sau cây đước, các nhà khoa học đã cho trồng các loài cây như vẹt, dà vôi, gõ biển, xu ổi, cóc… trên những vùng đất ẩm, ổn định, ít ngập triều, nước lợ…

Với việc trồng rừng, đơn vị thực hiện chủ lực là Lâm trường Duyên Hải. “250 thanh niên xung phong được điều về Cần Giờ để tham gia trồng rừng. Mỗi vụ trồng rừng, khoảng 5.000 - 6.000 người dân tại huyện Cần Giờ cũng được huy động đi trồng rừng. Nhờ quyết tâm của thành phố và nỗ lực của những người lao động, trong vòng 22 năm, rừng ngập mặn Cần Giờ đã được khôi phục hoàn toàn…”[2].

Năm 1991, rừng Cần Giờ được Chính phủ công nhận là rừng phòng hộ. Trong 8 năm (1991 - 1999), rừng được giao khoán cho các hộ chăm sóc, khai thác… và trong giai đoạn này, hiện tượng ủ than từ việc tận dụng các cành tỉa thưa diễn ra khá sôi động. Trước diễn biến đó, tránh tình trạng lợi dụng việc tỉa thưa để phá rừng, tháng 6-1999, UBND thành phố ra Quyết định số 3172/QĐ-UB-CNN nghiêm cấm tỉa thưa rừng phòng hộ Cần Giờ nhằm hạn chế hiện tượng ủ than.

Một Cần Giờ xanh

Hơn 20 năm gây trồng, diện tích rừng đã phủ xanh trên 31.000 ha, trong đó có gần 20.000 ha rừng trồng, hơn 11.000 ha được khoanh nuôi tái sinh tự nhiên và các loại rừng khác. Đến tháng 1-2000, Ban Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ được thành lập và cũng trong năm 2000, UNESCO công nhận rừng Cần Giờ là Khu dự trữ sinh quyển thế giới, là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam[3].

Hiện nay, hệ thực vật rừng ngập mặn Cần Giờ gồm 157 loài thực vật thuộc 76 họ, trong đó có 35 loài cây rừng ngập mặn thuộc 36 chi, 24 họ, chủ yếu là bần trắng, mắm trắng, đước đôi, xu ổi, trang, đưng, gõ biển, dà vôi, sú, vẹt... Các loài cây nước lợ có bần chua, ô rô, dừa lá, ráng... cùng các thảm cỏ biển. Vùng đệm, đất canh tác được trồng lúa, khoai mỡ, các loài đậu, dừa, cây ăn quả. Hệ động vật gồm quần thể không xương sống và thủy sinh, có 70 loài thuộc 44 họ như cua biển, tôm sú, tôm thẻ bạc, sò huyết... Hệ cá, có 137 loài thuộc 39 họ như cá ngát, cá bông lau, cá dứa... Hệ lưỡng thê có 9 loài và bò sát có 31 loài như kỳ đà nước, hổ mang chúa, trăn gấm, cá sấu hoa cà... Hệ chim có 130 loài, 47 họ, 17 bộ như bồ nông chân xám, diệc xám, vạc, già đẫy, giang sen... Hệ thú, có 19 loài, 13 họ, 7 bộ như mèo rừng, khỉ đuôi dài, cầy vòi đốm, nhím...

Hiện nay rừng ngập mặn Cần Giờ được mệnh danh là “lá phổi xanh” của TP.HCM. Rừng còn có vai trò quan trọng trong việc hạn chế thiệt hại do bão lũ. Đây là nguồn cung cấp thức ăn và khu vực sinh trưởng cho các loại thủy hải sản và động vật. Một nguồn lợi quan trọng chính là các loại thủy hải sản. Rừng ngập mặn Cần Giờ rất nhiều loại tôm, cá có giá trị kinh tế cao như cá chẽm, cá mú, cá ngát, tôm sú, tôm thẻ, sò huyết… Lá cùng các bộ phận của cây khi rụng xuống sẽ phân hủy thành mùn bả hữu cơ. Đây chính là nguồn thức ăn dồi dào cho các loại động vật dưới nước. Nghề nuôi tôm, sú, nghêu sò, cua biển phát triển từ năm 1993 cho tới nay chính là kết quả của việc phục hồi thành công rừng ngập mặn Cần Giờ.

Bên cạnh đó, cây rừng còn cung cấp củi gỗ. Được dùng làm bột giấy, ván dăm, ván ghép, vỏ cây dùng để sản xuất tanin dùng nhuộm vải lưới, làm keo dán. Có thể khai thác cây trong rừng lâu dài vì cây có khả năng phục hồi nhanh. Lá cây mắm được dùng làm thức ăn cho gia súc[4].

Từ thực tế đó, việc bảo tồn và phát triển rừng ngập mặn Cần Giờ, cũng là giữ gìn và tôn tạo Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, không chỉ có ý nghĩa thiết thực về mặt môi trường, nghiên cứu khoa học, giáo dục mà còn có hiệu quả to lớn về mặt kinh tế.

Các biện pháp quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ - Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ

Việc quản lý rừng ngập mặn – rừng phòng hộ Cần Giờ được thành phố đặc biệt quan tâm, nhất là sau khi được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển của thế giới.

Ngày 28-11-2000, UBND thành phố ra Quyết định số 65/2000/QĐ-UB-NN về ban hành Quy chế quản lý rừng phòng hộ huyện Cần Giờ. Nội dung quản lý nhà nước về rừng phòng hộ Cần Giờ theo Quyết định này gồm: xây dựng rừng phòng hộ Cần Giờ; bảo vệ rừng phòng hộ; nghiên cứu khoa học - kỹ thuật đối với rừng phòng hộ Cần Giờ; quản lý các hoạt động hỗ trợ cho rừng phòng hộ Cần Giờ.

Ngày 14-4-2006, UBND thành phố ban hành Chỉ thị số 14/2006/CT-UBND về việc ngăn chặn nghề cào bay và các hoạt động khai thác thủy sản vi phạm luật thủy sản tại vùng ven biển Cần Giờ và các tuyến sông lân cận. Chỉ thị nêu nêu trách nhiệm của Ủy ban nhân dân huyện Nhà Bè và huyện Cần Giờ là phải tăng cường công tác kiểm tra các hoạt động khai thác thủy sản vùng ven biển Cần Giờ, các tuyến sông lân cận như Lòng Tàu, Ngã Bảy, Soài Rạp… ngăn chặn và xử lý nghiêm các hoạt động khai thác thủy sản bằng cào bay và bằng các hình thức mang tính hủy diệt thủy sản, kiên quyết không để xuất hiện và phát triển nghề cào bay.

Ngày 21-1-2008, UBND thành phố ban hành Quyết định số 05/2008/QĐ-UBND về quy chế quản lý Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ. Quyết định nêu rõ: “Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ có diện tích là 75.740 ha, quản lý Khu Dự trữ là sự điều phối dựa trên các mối quan hệ hành chính và ngoài hệ thống hành chính nhằm tạo nên mối liên kết và hợp tác trong các lĩnh vực: bảo tồn đa dạng sinh học, đa dạng văn hóa, phát triển bền vững, kêu gọi đầu tư và trợ giúp các hoạt động nghiên cứu, giám sát nguồn lợi và phát triển kinh tế xã hội, du lịch sinh thái, giáo dục và đào tạo…”. Đồng thời, Quyết định cũng quy định: “ Mọi tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong phạm vi Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường”.

Ngày 29-1-2010, UBND thành phố ban hành Quyết định số 07/2010/QĐ-UBND phê duyệt phương án thống nhất quản lý rừng phòng hộ môi trường, Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ. Theo đó, Ban Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ là chủ rừng duy nhất quản lý toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp khu vực quy hoạch rừng phòng hộ môi trường, Khu Dự trữ sinh sau khi UBND thành phố có quyết định thu hồi rừng và đất lâm nghiệp đã giao cho các cá nhân, đơn vị, tổ chức trước đây.

Ngày 17-8-2016, UBND thành phố ban hành Quyết định số 4251/QĐ-UBND phê duyệt đề án "xây dựng khu xử lý rác sinh hoạt và giải pháp xử lý ô nhiễm, phục hồi môi trường" trên địa bàn huyện Cần Giờ. Quyết định nêu rõ: “(…) Để tiêu chí 17 về môi trường được đảm bảo thì cần phải có phương án xử lý rác sinh hoạt tạm thời đảm bảo vệ sinh môi trường trong khi đợi đầu tư khu xử lý rác sinh hoạt tại xã An Thới Đông và cải tạo ô nhiễm môi trường tại hai bãi rác Long Hòa, Bình Khánh, bên cạnh đó công tác nâng cao ý thức cộng đồng trong bảo vệ môi trường cần được thực hiện…”. Đây là quan điểm rất đúng đắn, bởi vấn đề xử lý rác, bảo vệ môi trường gắn trực tiếp với việc hoàn thành các chỉ tiêu trong chương trình xây dựng nông thôn mới đồng thời cũng có ý nghĩa bảo đảm tính nguyên vẹn của Khu dự trữ sinh quyển.

Bản thân huyện Cần Giờ cũng rất chú trọng công tác bảo vệ rừng phòng hộ - khu dự trữ sinh quyển. Ngày 4-8-2009, UBND huyện Cần Giờ ban hành Chỉ thị số 03/2009/CT-UBND về việc tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Cần Giờ. Hai năm sau, ngày 18-2-2011, UBND huyện tiếp tục ban hành Chỉ thị số 01/2011/CT-UBND về tăng cường các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng và cây phân tán…

*

Hiện nay, Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ có một vị trí đặc biệt trong công tác bảo vệ môi trường sinh thái, trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng. Các yếu tố này về mặt thực tiễn hay mặt định hướng đều gắn chặt với nhau, bảo vệ môi trường để phát triển kinh tế, trong đó có du lịch, phát triển du lịch và kinh tế phải trên nền tảng làm tốt công tác bảo vệ môi trường. Cần làm tốt cả hai mặt này để thúc đẩy phát triển du lịch, phát triển kinh tế đến một tầm cao mới!

TRÚC GIANG

 

[1] Theo Quang Huy, Vùng đất huyền thoại, báo Sài Gòn Giải phóng, ngày 2-9-2018.

[2] Thanh Sơn, Kỳ tích Cần Giờ, báo Nông nghiệp Việt Nam, ngày 3-9-2012.

[3] Hiện Việt Nam có 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới, ngoài Cần Giờ, còn Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà (năm 2004), Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng (2004), Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang (2006), Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An (2007), Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau (2009), Khu dự trữ sinh quyển Cù lao Chàm (2009), Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai (2011) và Khu dự trữ sinh quyển Langbiang (2015).

[4] Theo Rừng ngập mặn cần giờ khu dự trữ sinh quyển số 1 Việt Nam, http://vietnamforestry.org.vn/rung-ngap-man-can-gio/.